Nan giải bài toán chất thải rắn sinh hoạt

Thứ 6, 23.03.2018 | 15:41:27
512 lượt xem

BGTV- Quản lý, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) không chỉ là vấn đề cấp bách của riêng các đô thị và thành phố lớn, mà còn trở thành “điểm nóng” với nhiều khu vực nông thôn. Sự phát triển mạnh mẽ các ngành nghề, việc thay đổi tập quán sinh sống của người dân khiến lượng CTRSH gia tăng cả về thành phần và tính độc hại, trong khi đó việc quản lý, xử lý CTR tại khu vực còn hạn chế, trở thành thách thức lớn đối với quá trình xây dựng nông thôn mới tại mỗi địa phương.

CTRSH ở nông thôn là hỗn hợp của rất nhiều loại phát sinh từ các nguồn: các hộ gia đình, chợ, trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính. Chất thải khu vực này có tỷ lệ khá cao các chất hữu cơ, chủ yếu từ thực phẩm, chất thải vườn và phần lớn đều là chất hữu cơ dễ phân hủy (tỷ lệ thành phần chất dễ phân hủy chiếm 55-75%).

Theo thống kê, tổng khối lượng CTRSH ở nông thôn phát sinh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang khoảng trên 500 tấn/ngày, các huyện khu vực phụ cận TP. Bắc Giang như huyện Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hòa, Tân Yên tỷ lệ thu gom CTRSH nông thôn đạt khoảng 35%-45%, các huyện miền núi như Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam do dân cư phát tán, diện tích rộng nên tỷ lệ thu gom thấp, từ 8 – 15%. Có khoảng 40% số xã, thôn tự tổ chức thu gom dọn định kỳ, tại các xã, thôn đã tự hình thành các tổ, đội thu gom CTR tự quản.

Xử lý rác thải vấn luôn là vấn đề nan giải với nhiều khu vực trên địa bàn tỉnh

Thực tế hiện nay, việc thu gom, vận chuyển CTRSH khu vực nông thôn còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến chuyên chở về những nơi tập trung rác tự hình thành tại các xã, thôn. Kinh phí thu gom CTR khu vực nông thôn do người dân và đơn vị thu gom, vận chuyển tự thỏa thuận, tại các thôn, xóm chỉ có nơi tập kết rác thải để chôn lấp tạm thời, khi đầy lên lại tìm một nơi đất khác để tập kết, không có biện pháp xử lý, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.Vị trí các bãi chôn lấp CTR các thôn xã mọc lên tự phát, gần khu dân cư, gần khu công nghiệp, đường giao thông, gần khu vực nghĩa trang nông thôn, do đó gây ô nhiễm do rò rỉ nước rác đến nguồn nước sinh hoạt và khu vực đồng ruộng canh tác của người dân.

Chị Nguyễn Thị Nụ (xã Trung Sơn, Việt Yên) cho biết: “Người dân chúng tôi từ lâu đã quá quen với những bãi rác tự phát ở ven các tuyến đường, địa phương cũng nhiều lần dẹp bỏ, xử lý nhưng đâu vẫn hoàn đầy, trời mưa trời nắng ruồi nhặng rồi mùi xú uế bốc lên rất khó chịu, ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt của các hộ xung quanh”.

Mặc dù các văn bản pháp luật đối với vấn đề thu gom, xử lý CTRSH đã được ban hành tương đối đầy đủ, nhưng khả năng áp dụng trong thực tế còn nhiều hạn chế và việc hướng dẫn thực thi chưa kịp thời. Cơ chế chính sách ưu đãi về đầu tư xử lý CTR còn nhiều khó khăn, chưa thực sự khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia. Bên cạnh đó, chất lượng của công tác quy hoạch chưa cao, sự tham gia, phối hợp giữa các Bộ ngành còn nhiều hạn chế, chồng chéo; ý thức cộng đồng còn hạn chế... trở thành khó khăn lớn đối với công tác quản lý, xử lý CTRSH.

Cần nâng cao hiệu quả xử lý chất thải tại các bãi xử lý trên địa bàn tỉnh

Theo dự báo lượng CTRSH nông thôn phát sinh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2030 là trên 900 tấn/ngày, khối lượng CTR được thu gom khoảng 800 tấn/ngày, trong đó CTR hữu cơ chiếm 65%, CTR có khả năng tái chế chiếm 20%, CTR vô cơ chiếm 25% thành phần chất thải. Để giảm lượng CTRSH nông thôn chôn lấp cần giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng CTRSH phù hợp với địa phương, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân đối với bảo vệ môi trường. Nếu tất cả CTR phân hủy sinh học được xử lý sẽ giảm được 60% lượng CTR chôn lấp, việc này sẽ giảm chi phí đáng kể cho việc xử lý rác ở bãi chôn lấp hoặc chi phí vận chuyển.

Theo Sở xây dựng, giải pháp hiệu quả đối với vấn đề xử lý CTRSH tại các khu dân cư nông thôn cần xây dựng các bể ủ, diện tích 5m2/1 bể nhằm tận thu nguồn hữu cơ trong CTR sinh hoạt. Đối với khu dân cư phân tán, các xã khu vực miền núi, CTRSH cần được chôn lấp tại các khu xử lý tập trung của xã, xác định cụ thể theo quy hoạch nông thôn mới, áp dụng quy trình chế biến phân hữu cơ quy mô hộ gia đình, sử dụng thùng ủ vi sinh vật ưa nhiệt để xử lý chất thải hữu cơ khu vực nông thôn, với phương pháp này, CTR hữu cơ sau khi được phân loại tại các gia đình khu vực nông thôn có thể đươc xử lý ngay tại nguồn, không trộn lẫn với các loại CTR khác, sẽ dễ dạng cho người thu gom rác tái chế.

Quản lý, xử lý CTR không phải là việc “một sớm một chiều” với tất cả các địa phương, do đó bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, đồng thời kiểm soát chặt chẽ nguồn rác thải phát sinh, nhất là việc lưu giữ, vận chuyển, xử lý và thải bỏ chất thải, kiện toàn bộ máy thực thi công tác BVMT các cấp; huy động nguồn tài chính, tăng đầu tư về công nghệ, kỹ thuật trong lĩnh vực thu gom, xử lý rác thải nói chung và rác thải khu vực nông thôn nói riêng. Có như vậy, CTR mới không còn là “nỗi ám ảnh” đối với sự phát triển của xã hội.

Minh Anh